Hiện nay, Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT Thông tư quy định về dạy thêm, học thêm ban hành ngày 30/12/2024 chính thức có hiệu lực vào ngày 14/02/2025 đang là một văn bản được quan tâm nhất hiện nay, vì giáo dục là cốt lõi của một quốc gia, ảnh hưởng lớn đến một thế hệ. Mục đích của thông tư đưa ra để có thể giúp giảm tải việc học thêm của học sinh, đồng thời cũng nâng cao việc quản lý của cơ quan nhà nước về việc dạy thêm ngoài nhà trường của giáo viên. Bài viết sau đây MVA Việt Nam sẽ khái quát về Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT để Quý bạn đọc và Quý Khách hàng có thể hiểu rõ hơn về quy định của pháp luật.
Mục lục
I. Quy định về nguyên tắc dạy thêm, học thêm
Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT quy định:
“ Điều 3. Nguyên tắc dạy thêm, học thêm
- Dạy thêm, học thêm chỉ được tổ chức khi học sinh, học viên (sau đây gọi chung là học sinh) có nhu cầu học thêm, tự nguyện học thêm và được cha mẹ hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha mẹ học sinh) đồng ý. Nhà trường, tổ chức, cá nhân tổ chức dạy thêm, học thêm không được dùng bất cứ hình thức nào để ép buộc học sinh học thêm.
- Nội dung dạy thêm, học thêm không trái với quy định của pháp luật Việt Nam, không mang định kiến về sắc tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, giới, địa vị xã hội. Không cắt giảm nội dung dạy học theo kế hoạch giáo dục của nhà trường để đưa vào dạy thêm.
- Việc dạy thêm, học thêm phải góp phần phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; không làm ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chương trình giáo dục của nhà trường và việc thực hiện chương trình môn học của giáo viên.
- Thời lượng, thời gian, địa điểm và hình thức tổ chức dạy thêm, học thêm phải phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi, bảo đảm sức khoẻ của học sinh; tuân thủ quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, giờ làm thêm và các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ tại khu vực có lớp dạy thêm, học thêm”
Theo đó, việc dạy thêm, học thêm chỉ được thực hiện khi học sinh, học viên có nhu cầu và tự nguyện học thêm và được cha mẹ, hoặc người giám hộ đồng ý. Nội dung dạy thêm, học thêm không được trái quy định của pháp luật Việt Nam, không mang định kiến về sắc tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, giới, địa vị xã hội và không cắt giảm nội dung học theo kế hoạch giáo dục của nhà trường để đưa vào dạy thêm, không làm ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chương trình giáo dục của nhà trường và việc thực hiện chương trình môn học của giáo viên. Ngoài ra, thời lượng, thời gian, địa điểm và hình thức tổ chức dạy thêm, học thêm phải phù hợp với tâm sinh lý, lứa tuổi, bảo đảm sức khỏe của học sinh, tuân thủ quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, an ninh trật tự, an toàn, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ tại khu vực có lớp dạy thêm, học thêm
II. Các trường hợp không được dạy thêm, tổ chức học thêm
Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT quy định:
“Điều 4. Các trường hợp không được dạy thêm, tổ chức dạy thêm
- Không tổ chức dạy thêm đối với học sinh tiểu học, trừ các trường hợp: bồi dưỡng về nghệ thuật, thể dục thể thao, rèn luyện kĩ năng sống.
- Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường không được dạy thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh đối với học sinh mà giáo viên đó đang được nhà trường phân công dạy học theo kế hoạch giáo dục của nhà trường.
- Giáo viên thuộc các trường công lập không được tham gia quản lí, điều hành việc dạy thêm ngoài nhà trường nhưng có thể tham gia dạy thêm ngoài nhà trường.”
Thứ nhất, không được dạy thêm, tổ chức học thêm đối với học sinh tiểu học dưới bất kỳ hình thức nào trong hay ngoài nhà trường, trừ trường hợp về bồi dưỡng nghệ thuật, thể dục thể thao, rèn luyện kỹ năng sống
Thứ hai, Đối với giáo viên đang dạy học tại các nhà trường không được dạy thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh đối với học sinh mà giáo viên đó đang được nhà trường phân công dạy học theo kế hoạch giáo dục của nhà trường. Như vậy, giáo viên có đăng ký dạy ngoài nhà trường có thu tiền thì cũng chỉ được dạy thêm học sinh ở lớp, trường khác, hoặc nếu dạy học sinh của mình thì không được thu tiền của học sinh đó.
Thứ ba, đối với Giáo viên thuộc các trường công lập không được tham gia quản lý, điều hành việc dạy thêm ngoài nhà trường nhưng có thể đăng ký tham gia dạy thêm ngoài nhà trường. Như vậy, đối với các giáo viên thuộc trường tư thục vẫn có thể được tham gia quản lý, điều hành việc dạy thêm ngoài nhà trường và có thể thực hiện cả hoạt động dạy thêm ngoài nhà trường
III. Quy định về dạy thêm học thêm trong nhà trường
Theo quy định tại điều 5 Thông tư thì việc dạy thêm học thêm trong nhà trường được áp dụng khi đáp ứng các điều kiện sau:
Dạy thêm, học thêm trong nhà trường không được thu tiền của học sinh và chỉ dành cho các đối tượng học sinh đăng ký học thêm theo từng môn học
+ Học sinh có kết quả học tập môn học cuối học kỳ liền kề ở mức chưa đạt
+ Học sinh được nhà trường lựa chọn để bồi dưỡng học sinh giỏi
+ Học sinh lớp cuối cấp tự nguyện đăng ký ôn thi tuyển sinh, ôn thi tốt nghiệp theo kế hoạch giáo dục của nhà trường
Thông tư có ban hành Mẫu số 01 tại phụ lục kèm theo để Nhà trường tổ chức cho học sinh thuộc đối tượng trên viết đơn đăng ký học thêm theo từng môn học ở từng khối lớp
Căn cứ vào số học sinh đăng kí, nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức dạy thêm và sắp xếp lớp, thời khóa biểu và tổ chức dạy thêm, học thêm đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Lớp dạy thêm được xếp theo môn học đối với từng khối lớp, mỗi lớp không quá 45 học sinh
+ Không xếp giờ dạy thêm xen kẽ với thời khóa biểu và không dạy thêm trước các nội dung so với việc dạy học theo phân phối chương trình môn học trong kế hoạch giáo dục của nhà trường;
+ Mỗi môn học được tổ chức dạy thêm không quá 02 (hai) tiết/tuần.
Kế hoạch tổ chức dạy thêm, học thêm được công khai trên trang thông tin điện tử của nhà trường hoặc niêm yết tại nhà trường.
IV. Quy định về Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường
Điều 6 của Thông tư quy định như sau:
“1. Tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh (sau đây gọi chung là cơ sở dạy thêm) phải thực hiện các yêu cầu sau:
- a) Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật;
- b) Công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm (theo Mẫu số 02 tại Phụ lục kèm theo Thông tư này).
- Người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm.
- Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải báo cáo với Hiệu trưởng hoặc Giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng) về môn học, địa điểm, hình thức, thời gian tham gia dạy thêm (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục kèm theo Thông tư này).”
Có thể nói đây được coi là quy định đặt ra nhiều câu hỏi nhất hiện nay của Thông tư. Việc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật là như nào, Giáo viên dạy thêm được thực hiện hoạt động giảng dạy như nào, ngoài ra còn cần những điều kiện gì để có thể đi vào hoạt động theo đúng quy định của pháp luật. MVA chúng tôi xin cung cấp thêm một số thông tin như sau:
Việc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật hiện này được thực hiện dưới các hình thức như doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh cá thể. Bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến việc đăng ký kinh doanh theo hộ kinh doanh cá thể để có thể đáp ứng với việc thực hiện hoạt động một cách đơn giản hơn cả.
Theo đó, Trình tự chi tiết đăng ký Hộ kinh doanh cá thể để hoạt động dạy thêm, bao gồm:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh cá thể
Hồ sơ bao gồm:
- Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh cá thể (Theo mẫu tại Phụ lục III-1, Nghị định 01/2021/NĐ-CP).
- Bản sao công chứng CMND/CCCD/hộ chiếu của chủ hộ kinh doanh.
Lưu ý:
- Giáo viên công lập không được đứng tên đăng ký hộ kinh doanh. Có thể nhờ người thân đứng tên và ký hợp đồng lao động để giảng dạy
- Hợp đồng thuê địa điểm hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu sử dụng nhà riêng để dạy).
- Danh sách ngành nghề đăng ký kinh doanh (Mã ngành phù hợp: 8559 – Giáo dục khác chưa được phân vào đâu, ghi rõ “Dạy thêm, học thêm”).
- Vốn điều lệ (khuyến nghị: 50 – 200 triệu đồng, tùy quy mô).
- Dưới 50 triệu: Phù hợp với quy mô nhỏ (10 – 20 học sinh), học tại nhà, không thuê giáo viên.
- 50 – 100 triệu: Quy mô trung bình (30 – 80 học sinh), có thuê địa điểm hoặc giáo viên hỗ trợ.
- 100 – 200 triệu: Quy mô lớn (100 – 300 học sinh), có mặt bằng cố định, đầu tư trang thiết bị.
- Trên 200 triệu: Nếu có ý định mở rộng quy mô hoặc hoạt động như trung tâm đào tạo.
Bước 2: Nộp hồ sơ tại UBND cấp huyện/quận (Phòng Tài chính – Kế hoạch)
- Địa điểm: UBND cấp huyện nơi đặt cơ sở dạy thêm.
- Thời gian giải quyết: 3 – 5 ngày làm việc.
- Lệ phí: Khoảng 100.000 – 300.000 VNĐ (tùy địa phương).
Bước 3: Nhận Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh
- Sau khi được cấp giấy phép, hộ kinh doanh có thể khắc dấu, mở tài khoản ngân hàng (nếu cần).
- Tiến hành treo biển hiệu tại địa chỉ đăng ký.
Bước 4: Đăng ký khai thuế ban đầu tại Chi cục Thuế
Khai thuế khoán (thuế môn bài, thuế thu nhập cá nhân, thuế GTGT nếu có).
Bước 5: Đảm bảo các điều kiện theo Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT
- Người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm, phù hợp về bằng cấp chuyên môn (có bằng đại học đúng chuyên ngành hoặc chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm).
- Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải báo cáo với Hiệu trưởng hoặc Giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng) về môn học, địa điểm, hình thức, thời gian tham gia dạy thêm (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục kèm theo Thông tư này)
- Đáp ứng điều kiện cơ sở vật chất, các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ tại khu vực có lớp dạy thêm, học thêm
- Công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm (theo Mẫu số 02 tại Phụ lục kèm theo Thông tư này).
Đối với mức thu tiền học thêm ngoài nhà trường do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh, học sinh với cơ sở dạy thêm.
Thông tư 29/2024/TT-BDGĐT cũng đang cận kề ngày có hiệu lực, việc ban hành thông tư này cũng cần có thêm sự tham gia hướng dẫn từ các cơ quan chức năng như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở giáo dục và đào tạo, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân cấp xã và Nhà trường cũng như các tổ chức, cá nhân có liên quan. Vì vậy, để có thể hiểu rõ hơn về quy định của thông tư, Quý bạn đọc và Quý khách hàng có thể chờ thêm các văn bản liên quan hướng dẫn thi hành để thực hiện và áp dụng theo quy định của pháp luật.


