Thu nhập khấu trừ thuế TNCN 10% không bao gồm các khoản được miễn thuế theo quy định hiện hành. Đây là điểm cần lưu ý khi doanh nghiệp chi trả tiền lương, tiền công hoặc khoản thu nhập khác cho cá nhân thuộc diện khấu trừ 10%. Việc xác định đúng khoản thu nhập làm căn cứ khấu trừ giúp doanh nghiệp tránh tính thuế trên những khoản không thuộc thu nhập chịu thuế, đặc biệt trong trường hợp người lao động đã nghỉ việc nhưng vẫn được thanh toán các khoản tiền liên quan.
Mục lục
- I. Thu nhập nào thuộc diện khấu trừ 10% thuế TNCN?
- II. Thu nhập khấu trừ 10% không bao gồm khoản được miễn thuế
- III. Những khoản cần rà soát trước khi tính khấu trừ 10%
- IV. Trường hợp người lao động nghỉ việc còn được nhận tiền
- V. Ví dụ cách xác định thu nhập khấu trừ 10%
- VI. Kế toán cần lưu ý gì khi khấu trừ 10%?
- VII. Phân biệt khấu trừ 10% và quyết toán thuế TNCN
- VIII. Kết luận
I. Thu nhập nào thuộc diện khấu trừ 10% thuế TNCN?

1.1. Đối tượng áp dụng khấu trừ 10%
Theo quy định về khấu trừ thuế TNCN, tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao hoặc các khoản chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng thì thuộc trường hợp phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% nếu khoản chi đáp ứng điều kiện về mức chi trả theo quy định.
Từ ngày 01/7/2026, mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên là một trong những trường hợp cần đặc biệt lưu ý khi xác định nghĩa vụ khấu trừ.
Cách tính cơ bản:
Thuế TNCN khấu trừ = Thu nhập tính khấu trừ × 10%
Tuy nhiên, thu nhập tính khấu trừ không phải lúc nào cũng bằng toàn bộ số tiền doanh nghiệp thực tế thanh toán cho cá nhân.
1.2. Không phải khoản tiền nào nhận được cũng tính 10%
Đây là điểm kế toán thường dễ nhầm.
Ví dụ, doanh nghiệp thanh toán cho người lao động tổng cộng 15 triệu đồng, trong đó có:
- 10 triệu đồng tiền lương chịu thuế;
- 2 triệu đồng tiền làm thêm giờ thuộc phần thu nhập được miễn thuế;
- 3 triệu đồng khoản khác không tính vào thu nhập chịu thuế.
Khi đó, không nên lấy toàn bộ 15 triệu đồng × 10%.
Kế toán phải xác định phần thu nhập thuộc diện chịu thuế và thuộc căn cứ khấu trừ trước khi tính thuế.
II. Thu nhập khấu trừ 10% không bao gồm khoản được miễn thuế
2.1. Khoản được miễn thuế phải loại khỏi căn cứ tính
Nguyên tắc quan trọng là:
Khoản thu nhập được pháp luật quy định miễn thuế TNCN thì không đưa vào thu nhập chịu thuế để tính số thuế phải khấu trừ.
Do đó, khi doanh nghiệp xác định thu nhập để khấu trừ 10%, cần phân loại từng khoản chi.
Không nên chỉ căn cứ vào tổng số tiền trên bảng thanh toán.
2.2. Tiền làm thêm giờ, làm việc ban đêm
Một trong những khoản thường gặp là tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm.
Phần tiền lương trả cao hơn so với tiền lương làm việc trong giờ bình thường theo quy định có thể thuộc khoản được miễn thuế TNCN.
Ví dụ:
Người lao động được trả:
- Tiền lương làm việc bình thường: 100.000 đồng/giờ.
- Tiền lương làm thêm: 150.000 đồng/giờ.
Phần chênh lệch:
150.000 – 100.000 = 50.000 đồng/giờ
là phần cần xem xét theo quy định về khoản thu nhập được miễn thuế.
Do đó, không phải toàn bộ 150.000 đồng đều mặc nhiên là thu nhập chịu thuế theo cùng một cách.
2.3. Tiền lương làm việc ban đêm
Tương tự, khoản tiền trả thêm do người lao động làm việc ban đêm cần được tách khỏi tiền lương làm việc trong điều kiện bình thường. Phần trả thêm đáp ứng điều kiện miễn thuế được loại khỏi thu nhập chịu thuế. Đây là khoản doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý khi tính thuế cho người lao động có làm việc theo ca hoặc làm việc ngoài giờ hành chính.
III. Những khoản cần rà soát trước khi tính khấu trừ 10%
3.1. Các khoản phụ cấp, trợ cấp
Không phải mọi khoản phụ cấp, trợ cấp đều được miễn thuế. Kế toán cần căn cứ vào bản chất và điều kiện chi trả của từng khoản. Một số khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định có thể được miễn hoặc không tính vào thu nhập chịu thuế trong phạm vi nhất định. Ngược lại, nếu khoản chi không đáp ứng điều kiện miễn thuế thì phải tính vào thu nhập chịu thuế.
3.2. Tiền ăn giữa ca
Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa cần được kiểm tra theo quy định về thuế TNCN và điều kiện chi trả thực tế.
Doanh nghiệp không nên mặc định toàn bộ khoản tiền ăn là miễn thuế.
Kế toán cần xác định:
- Hình thức cung cấp suất ăn;
- Khoản chi bằng tiền;
- Mức chi;
- Quy chế của doanh nghiệp;
- Điều kiện áp dụng tại thời điểm phát sinh.
Sau đó mới xác định phần nào thuộc thu nhập chịu thuế.
3.3. Các khoản phúc lợi khác
Các khoản phúc lợi doanh nghiệp chi cho người lao động cũng cần phân loại.
Ví dụ:
- Hỗ trợ đi lại;
- Hỗ trợ điện thoại;
- Hỗ trợ trang phục;
- Hỗ trợ đào tạo;
- Các khoản trợ cấp;
- Khoản chi nhân dịp lễ, Tết.
Không phải khoản nào doanh nghiệp gọi là “hỗ trợ” hoặc “phúc lợi” cũng được miễn thuế.
Vì vậy, kế toán cần căn cứ vào quy định thuế cụ thể thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi trên chứng từ.
IV. Trường hợp người lao động nghỉ việc còn được nhận tiền
4.1. Đây là trường hợp dễ phát sinh sai sót
Sau khi chấm dứt hợp đồng, người lao động có thể tiếp tục nhận tiền từ doanh nghiệp.
Ví dụ:
- Tiền lương còn thiếu;
- Tiền phép năm chưa nghỉ;
- Tiền thưởng;
- Tiền làm thêm giờ;
- Khoản hỗ trợ theo chính sách của doanh nghiệp.
Khi đó, doanh nghiệp phải xác định bản chất từng khoản tiền trước khi xác định có phải khấu trừ 10% hay không.
4.2. Không phải cứ thanh toán từ 5 triệu đồng là tính 10% trên toàn bộ
Ví dụ doanh nghiệp trả cho người lao động sau khi nghỉ việc tổng cộng 12 triệu đồng, gồm:
- 7 triệu đồng tiền lương;
- 3 triệu đồng phần thu nhập làm thêm giờ thuộc diện miễn thuế;
- 2 triệu đồng khoản khác không thuộc thu nhập chịu thuế.
Nếu khoản chi thuộc trường hợp khấu trừ 10%, căn cứ tính thuế phải được xác định theo thu nhập thuộc diện chịu thuế, thay vì máy móc lấy 12 triệu đồng để nhân 10%.
Đây cũng là nội dung cần lưu ý khi áp dụng hướng dẫn tại Công văn 10049/NBI-QLDN1 về khấu trừ 10% thuế TNCN đối với người lao động đã chấm dứt hợp đồng.
V. Ví dụ cách xác định thu nhập khấu trừ 10%
5.1. Trường hợp không có khoản miễn thuế
Anh A nhận khoản tiền công 8 triệu đồng.
Khoản tiền này thuộc diện chịu thuế và không có khoản được miễn thuế.
Thuế TNCN tạm khấu trừ:
8.000.000 × 10% = 800.000 đồng
Số tiền thực nhận:
8.000.000 – 800.000 = 7.200.000 đồng
5.2. Trường hợp có khoản thu nhập được miễn thuế
Chị B nhận tổng cộng 10 triệu đồng, trong đó:
- Thu nhập chịu thuế: 7 triệu đồng;
- Khoản được miễn thuế: 3 triệu đồng.
Nếu thuộc diện khấu trừ 10%, số thuế được xác định trên khoản thu nhập thuộc diện khấu trừ:
7.000.000 × 10% = 700.000 đồng
Không tính:
10.000.000 × 10% = 1.000.000 đồng
Như vậy, việc tách riêng khoản miễn thuế trước khi tính khấu trừ có ý nghĩa rất quan trọng.
VI. Kế toán cần lưu ý gì khi khấu trừ 10%?
6.1. Kiểm tra bản chất từng khoản chi
Kế toán nên lập bảng chi tiết:
| Khoản chi | Số tiền | Tính thuế TNCN |
|---|---|---|
| Tiền lương, tiền công | 7 triệu | Có |
| Phần thu nhập làm thêm được miễn | 2 triệu | Không |
| Khoản hỗ trợ thuộc diện không tính thuế | 1 triệu | Không |
| Tổng chi trả | 10 triệu | Không lấy toàn bộ để tính |
Bảng phân loại này giúp hạn chế sai sót khi lập chứng từ khấu trừ và hồ sơ quyết toán.
6.2. Có hồ sơ chứng minh khoản miễn thuế
Để bảo vệ số liệu khi cơ quan thuế kiểm tra, doanh nghiệp nên lưu đầy đủ hồ sơ liên quan.
Tùy từng khoản, có thể gồm:
- Hợp đồng lao động;
- Phụ lục hợp đồng;
- Bảng chấm công;
- Bảng tính tiền lương;
- Bảng tính tiền làm thêm;
- Quy chế tiền lương, thưởng;
- Quy chế phúc lợi;
- Chứng từ thanh toán;
- Hồ sơ nghỉ việc.
6.3. Không tự xác định khoản miễn thuế chỉ dựa vào tên gọi
Ví dụ, doanh nghiệp ghi trên bảng lương là “hỗ trợ đặc biệt”.
Tên gọi này không tự động khiến khoản tiền được miễn thuế.
Cơ quan thuế có thể xem xét:
- Bản chất khoản chi;
- Căn cứ pháp lý;
- Điều kiện hưởng;
- Mức chi;
- Hồ sơ chứng minh;
- Cách hạch toán và thanh toán.
Vì vậy, kế toán cần xác định khoản chi dựa trên quy định thuế, không chỉ dựa trên cách doanh nghiệp đặt tên.
VII. Phân biệt khấu trừ 10% và quyết toán thuế TNCN
7.1. Khấu trừ 10% chỉ là khấu trừ tại nguồn
Khấu trừ 10% không đồng nghĩa với việc cá nhân đã hoàn thành nghĩa vụ thuế cuối cùng. Đây là khoản thuế được tổ chức trả thu nhập khấu trừ trước khi thanh toán. Cuối năm, tùy trường hợp, cá nhân có thể phải quyết toán để xác định số thuế thực tế phải nộp.
7.2. Có thể phát sinh hoàn thuế
Nếu trong năm cá nhân bị khấu trừ thuế nhưng sau khi quyết toán xác định số thuế phải nộp thấp hơn số đã khấu trừ, cá nhân có thể phát sinh số thuế nộp thừa.
Trường hợp đáp ứng điều kiện hoàn thuế, số thuế nộp thừa có thể được xử lý theo quy định.
Do đó, người lao động không nên hiểu rằng bị khấu trừ 10% đồng nghĩa chắc chắn phải chịu thuế cuối cùng ở mức 10%.
VIII. Kết luận
Khi thực hiện khấu trừ 10% thuế TNCN, doanh nghiệp cần xác định chính xác khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế và khoản nào được miễn thuế. Các khoản được miễn thuế TNCN không đưa vào thu nhập làm căn cứ khấu trừ 10%, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện miễn thuế theo quy định.
Đặc biệt với người lao động nghỉ việc nhưng vẫn được doanh nghiệp thanh toán các khoản tiền sau khi chấm dứt hợp đồng, kế toán cần phân loại từng khoản trước khi tính thuế. Không nên lấy toàn bộ số tiền thực tế chi trả để nhân ngay với 10%. Việc lưu đầy đủ bảng lương, chứng từ thanh toán và hồ sơ chứng minh khoản miễn thuế cũng rất quan trọng. Đây là căn cứ giúp doanh nghiệp giải trình khi cơ quan thuế kiểm tra.


